In den 80er Jahren des 19. Jahrhunderts erließ Bismarck eine moderne Sozialgesetzgebung. Das entscheidende Motiv bestand jedoch darin, der Arbeiterschaft das zu geben, was sie am dringlichsten forderte und so der SPD „den Wind aus den Segel zu nehmen“. Dies versuchte er mit folgenden Gesetzen zu erreichen:
Trong những năm 80 của thế kỷ thứ 19 Bismarck đã ban hành một bộ luật xã hội rất tiến bộ. Động lực chủ yếu cho việc này là đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết nhất của giới công nhân và như vậy sẽ „làm mất gió thuyền buồm“ của đảng SPD. Để hy vọng đạt được điều đó, ông đã cho ban hành những bộ luật sau đây:.
– Krankenversicherung: Arbeitnehmer bezahlt 2/3 und Arbeitgeber 1/3 der Kosten.
– Unfallversicherung: Die Kosten tragen die Arbeitgeber.
– Invaliditäts- und Altersversicherung (ab 70 Jahren): Arbeitnehmer und Arbeitgeber tragen zur Hälfte die Kosten.
– Bảo hiểm bệnh tật: Giới thợ trả 2/3 và chủ trả 1/3 tổn phí.
– Bảo hiểm tai nạn: Chủ trả hoàn toàn tổn phí.
– Bảo hiểm khi mất sức lao động và khi về già (từ 70 tuổi): Thợ và chủ mỗi bên trả một nửa..
Obwohl die Sozialgesetzgebung in Europa vorbildlich war, verringerte sie die Spannung zwischen dem monarchisch-autoritären Staat und der Arbeiterschaft nicht, zumal die Gesetze ohne Beteiligung der Betroffenen zustande kamen.
Mặc dù việc ban hành những luật lệ này là một tấm gương đáng học ở châu Âu, nhưng nó không làm giảm bớt căng thẳng giữa một nhà nước quân chủ độc tài và giới công nhân, vì nó ra đời mà không có sự tham gia của những người trong cuộc..
.
BISMARCKS AUSSENPOLITISCHES KONZEPT
ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA BISMARCK.

Die „Einigungskriege“ von 1866 und 1870/71 bestimmen das außenpolitische Konzept Bismarcks maßgeblich, der von folgenden Voraussetzungen ausging:

„Những cuộc chiến tranh dẫn đến thống nhất “ năm 1866 và 1870/71 đã quyết định chủ yếu đường lối đối ngoại của Bismarck sau này, xuất phát từ những tiền đề sau đây:

.
– Die Schaffung des Deutschen Reichs hat das Mächtegleichgewicht in Europa verschoben.
– Die Stabilisierung des jungen Reichs ist vorrangig und muss durch die Konzentration auf die innere Entwicklung erreicht werden.
– Das Misstrauen des Auslands muss abgebaut werden.
– Strategisch ungünstige geografische Mittellage.
– „Erzfeinschaft“ mit Frankreich.
– Gegnerschaft von Russland und Österreich-Ungarn auf dem Balkan.
– Gute Beziehungen zu Russland (Preußen unterstützte den polnischen Aufstand gegen Russland 1863 nicht) und zu England (Verwandtschaft der Herrscherhäuser).

– Sự hình thành Vương quốc Đức đã làm lệch cán cân quyền lực ở châu Âu.
– Việc ổn định một đất nước còn non trẻ được ưu tiên trước hết và chỉ có thể đạt được thông qua tập trung phát triển những vấn đề nội trị.
– Phải làm giảm thiểu sự nghi kỵ của nước ngoài.
– Vị trí địa lý nằm ở trung tâm là không thuận lợi cho vấn đề chiến lược.
– „Mối thù truyền kiếp“ với Pháp.
– Đối thủ của Nga và Áo- Hung ở vùng Ban- căng.
– Quan hệ tốt với Nga (Phổ không ủng hộ sự nổi dậy của Ba Lan chống Nga năm 1863) và với Anh (Quan hệ thân thiện với những dòng họ cầm quyền).

.
Auf dieser Grundlage konzipierte Bismarck 1877 seine Außenpolitik. Deren Elemente waren:
Dựa trên cơ sở này, năm 1877 Bismarck đã phác họa ra đường lối đối ngoại của mình. Những điểm chính trong đó là:
– Demonstration der Saturiertheit durch Verzicht auf territoriale Ansprüche und Kolonien.
– Sicherheit für das junge Deutsche Reich durch Beteiligungen an allen bedeutenden europäischen Bündnissen.
– Stabilisierung des europäischen Mächtegleichgewichts.
– Vermeidung von europäischen Konflikten oder Kriegen bzw. deren Abdrängung an die Peripherie Europas (z.B. Balkan) oder nach Übersee (Kolonien).
– Dadurch Stabilisierung des „labilen Gleichgewichts“ in Europa und Isolierung Frankreichs.

– Thể hiện sự thỏa mãn với việc không đòi lãnh thổ và thuộc địa.
– Tạo an toàn cho Vương quốc Đức còn non trẻ thông qua việc tham gia vào những liên minh quan trọng ở châu Âu.
– Ổn định cán cân quyền lực ở châu Âu.
– Không để những tranh chấp hay chiến tranh xảy ra ở châu Âu cũng như lấn chiếm vùng ngoại vi châu Âu (ví dụ vùng Ban- căng) hoặc ngoài lục địa này (chiếm thuộc địa).
– Qua đó ổn định hóa „cán cân vốn bất ổn“ ở châu Âu và cô lập Pháp.

.
DIE BEURTEILUNG BISMARCKS
ĐÁNH GIÁ VỀ BISMARCK

.

Bismarck wurde und wird auch heute noch kontrovers beurteilt. Das jeweilige Urteil ist abhängig von der historischen Nähe oder Distanz und dem politisch-ideologischen Standort des Beurteilenden. Grundsätzlich muss unterschieden werden zwischen dem weitsichtigen und fähigen Außenpolitiker und dem Innenpolitiker, der wenig Gespür für die neuen, unabwendbaren Entwicklungen des 19. Jahrhunderts besaß (Liberalismus, Demokratie, Parteien, Arbeiterschaft…) und deshalb mit seiner Innenpolitik keinen Erfolg hatte.

Cho đến ngày nay, Bismarck vẫn được đánh giá dưới nhiều giác độ khác nhau. Mỗi đánh giá đều phụ thuộc vào thời điểm lịch sử gần hay xa, vào vị thế tư tưởng chính trị của chính người đánh giá. Về cơ bản phải phân biệt giữa một con người làm công tác đối ngoại có năng lực, có tầm nhìn xa trông rộng và một con người đưa ra chính sách nội trị, ít nhạy cảm về xu hướng phát triển mới không thể đảo ngược được của thế kỷ thứ 19 (Chủ nghĩa tự do ra đời, dân chủ, các đảng phái, giới công nhân…) và vì thế chính sách đối nội của ông không mấy thành công.

.

Zwischen 1866 und 1945 wird Bismarck vorwiegend als Außenpolitiker, als „genialer Schöpfer des Deutschen Reichs“, als „eiserner Kanzler“ gesehen und aus nationalistischen Gründen verherrlicht. Seit 1945 ist die Beurteilung Bismarcks ausgewogener und berücksichtigt seine innen- und außenpolitischen Gewinne, Niederlagen und Methoden sowie die Auswirkungen seiner Politik z.B. auf das Dritte Reich (Machtstaatsgedanke, Obrigkeitsstaat, Untertanengeist, „Blut- und Eisen“- Militarismus). Deshalb steht die moderne Geschichtsschreibung Bismarck distanzierter gegenüber, da sowohl seine Innen- als auch seine Außenpolitik von namhaften Historikern (z.B. Golo Mann) als Beginn des „Weges zu Hitler“ gesehen wird.

Trong khoảng thời gian từ 1866 đến 1945 Bismarck được đánh giá, chủ yếu trên cương vị của một nhà ngoại giao, là „người sáng lập thiên tài của Vương quốc Đức“, là „vị thủ tướng sắt thép“ và được ca ngợi hết lời vì lý do tự hào dân tộc. Từ năm 1945, việc đánh giá Bismarck có phần khách quan hơn, có chú ý đến những thắng bại cũng như phương pháp thực hiện của ông trong chính sách đối nội, đối ngoại, chú ý đến ảnh hưởng do chính sách của ông đối với Vương quốc đệ tam (Thời kỳ Hitler lên nắm quyền). Đó là tư duy nhà nước quyền lực, tôn uy quyền nhà nước, tinh thần phục dịch của dân chúng, chủ nghĩa quân phiệt dùng „sắt và máu“. Chính vì thế, ngành viết sử hiện đại đã tạo khoảng cách đối với Bismarck, vì kể cả chính sách nội trị lẫn ngoại giao của ông được những nhà sử học có tên tuổi (ví dụ Golo Mann) đánh giá là sự khởi đầu „con đường dẫn đến chế độ Hitler“.

.
Nguyễn Thế Tuyền chuyển ngữ

Nguyễn Thế Tuyền chuyển ngữ: BISMARCK –THỦ TƯỚNG ĐẦU TIÊN CỦA VƯƠNG QUỐC ĐỨC

Bản tin khác