Với 4000 năm lịch sử, văn hoá Việt Nam là một trong các nền văn hoá lâu đời nhất trên thế giới, nền văn minh lúa nước. Cho đến ngày nay, gần 70% trong số 90 triệu dân Việt Nam vẫn sống chủ yếu với nghề nông. Họ sinh hoạt và di chuyển ít khi xa hơn nơi họ sinh ra 50 km. Gia đình là một đơn vị của xã hội và thể hiện những đặc điểm của trật tự xã hội Việt Nam.

.

GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRƯỚC KIA

.

Nhiều thế hệ sống chung trong một gia đình, có đến ba thế hệ. Các thành viên trong gia đình thường cảm thấy ấm cúng và được che chở. Người lớn tuổi không những truyền kinh nghiệm sống cho thế hệ sau mà còn đóng vai trò người thầy đào tạo nghề. Một gia đình xưa kia thường có nhiều con, hồi đó một phần họ chưa biết được các phương pháp tránh thai, một phần con cái như một hình thức bảo hiểm lúc về già để họ nương tựa. Gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu.

.

Đặc điểm văn hoá nổi bật nhất của gia đình Việt Nam là tính “tôn ti trật tự”. Người lớn tuổi phải được tôn trọng, ý kiến của họ có trọng lượng lớn hơn. Họ khó chấp nhận sự chỉ trích phê phán từ phía dưới. Những chuẩn mực này dựa trên nền tảng của văn hoá Khổng giáo phương đông. Cùng với vai trò quyết định của người đàn ông trong gia đình đã tạo nên mảnh đất màu mỡ cho phương thức giáo dục độc đoán phát triển. Những vấn đề lớn trong gia đình đều do người đàn ông quyết định không cần hỏi ý kiến người khác.

Mức sống của người dân phần lớn ở mức tối thiểu để tồn tại, ở thành thị có khá hơn do có điện có nước máy. Nền sản xuất chủ yếu dùng cơ năng của người và súc vật. Mạng lưới trường lớp và chăm sóc y tế rất yếu, dẫn đến nghèo đói và tuổi thọ không cao. Hôn nhân trong xã hội trước kia ít khi dựa vào tình yêu trai gái mà do sự sắp đặt của bố mẹ hai bên. Phụ nữ thường lấy chồng rất sớm, có khi mới 14 hay 15 tuổi (có khi chỉ để thêm người làm). Sự nghiệp và hy vọng của gia đình dồn vào người đàn ông, điều đó dẫn đến hiện tượng “trọng nam khinh nữ”. Người phụ nữ Việt Nam thường chịu thiệt thòi nhưng không dám kêu ca, ngay cả trong lĩnh vực tình dục. Họ luôn bị thụ động.

.

2

.

Hình ảnh một gia đình Việt Nam trước kia có thể đúc kết ngắn gọn: Cha nghiêm khắc và gia trưởng, mẹ nhân từ, tế nhị. Truyền thống Việt dựa trên tính cộng đồng, tính ổn định. Kiểm soát xã hội không những bằng luật pháp mà còn dùng luân lý và phong tục. Ví dụ luật Tam tòng đối với phụ nữ: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Có nghĩa là: Khi còn ở nhà, người phụ nữ phải phục vụ cha, khi đi lấy chồng thì phục vụ chồng, nếu chồng chết thì phục vụ con. Tính tôn ti trật tự này là một yếu tố góp phần làm ổn định xã hội, nhưng không phù hợp trong thời đại mới và được coi là sự cản trở. Cấu trúc gia đình trong xã hội Việt Nam đã thay đổi cơ bản trong những năm qua.

.

GIA ĐÌNH VIỆT NAM NGÀY NAY

.

Sống trong một gia đình gồm nhiều thế hệ sẽ làm hạn chế rất nhiều tự do cá nhân, kìm hãm sự phát triển cá tính và năng lực của mỗi con người riêng lẻ. Hậu quả là nó không đáp ứng được những đòi hỏi của đời sống hiện đại. Một gia đình hiện đại phần lớn chỉ gồm hai thế hệ, bố mẹ và con cái. Họ cũng có ít con hơn, vì nuôi dưỡng một con người hiện đại rất tốn kém tiền bạc thời gian và kiên nhẫn. Quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đã tạo điều kiện để người dân Việt Nam được giao tiếp nhiều hơn với các nền văn hoá khác, nên nhiều giá trị văn hoá phương tây được du nhập vào Việt Nam. Một điểm vô cùng quan trọng là người phụ nữ đã được giải phóng. Vai trò của họ trong gia đình đã một phần được san sẻ cho đàn ông. Quyền bình đẳng trong gia đình và trong xã hội tạo điều kiện cho nhiều phụ nữ tiến thân và thành đạt.

.

Hiện tại trong rất nhiều gia đình, người phụ nữ đóng vai trò đầu tàu trong việc lo kinh tế và quán xuyến gia đình. Họ tự tin hơn để gánh vác rất nhiều công việc của gia đình và xã hội. Mức sống cao hơn trước kia đã kéo theo nhu cầu hưởng thụ của người dân. Chính vì thế cơ cấu gia đình cũ không còn tồn tại nữa. Thời gian bố mẹ dành cho con cái và cho chính mình ít hơn, tất cả những gì liên quan đến giáo dục và đào tạo họ phó thác cho nhà trường.

Nhà trường cũng bị cuốn vào vòng xoáy của thị trường nên ít nhiều mất cái trách nhiệm cao cả đáng lẽ phải có. Bạo lực và lừa dối trong học đường xảy ra không hiếm. Sự cạnh tranh khốc liệt trong tất cả các lĩnh vực đã mang lại cho rất nhiều người những Stress nặng nề, lo lắng và thất vọng. Bạo hành trong gia đình, ly hôn, ngoại tình nhiều và công khai hơn. Cấu trúc gia đình rơi vào khủng hoảng, con cái nghiện hút, mâu thuẫn thế hệ nảy sinh, buôn bán phụ nữ, nói dối và hàng giả. Ngày nay tuổi trẻ không dễ dàng chấp nhận người lớn can thiệp vào những quyết định của mình. Bố mẹ không kiểm soát được, họ rất lo con cái họ bị nghiện ngập hoặc vướng vào những dại dột khác. Sự căng thẳng quá mức dẫn đến cáu bẳn, trầm cảm, mất ngủ và suy nhược.

.

5

.

MÔ HÌNH GIA ĐÌNH VIỆT NAM Ở CHLB ĐỨC

.

Hiện tại có khoảng trên một trăm nghìn người Việt hoặc gốc Việt sống ở CHLB Đức, trong đó có rất nhiều người sống ở Berlin. Họ rời Việt Nam với những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau. Người ta có thể chia họ thành 5 nhóm:

• Những người sống ở Đức trước 1975 (miền Nam Việt Nam được giải phóng). Đó là những sinh viên, các nhà nghiên cứu của chế độ miền Nam Việt Nam và ở lại các tiểu bang cũ. Họ không muốn trở lại Việt Nam sau khi học xong, vì một Việt Nam thống nhất kể từ thời điểm đó có chế độ CNXH

• Những người gọi là “thuyền nhân” từ Việt Nam vượt biên ra đi từ 1978 – 1986. Tổ chức nhân đạo của Đức có tên Cap Annamur của bác sĩ và nhà báo Neudeck đã cứu hàng nghìn người trên biển. Họ lênh đênh trên những con thuyền không có khả năng chịu được sóng gió của biển khơi.

• Nhóm người sang Đức theo diện Hợp tác lao động giữa hai chính phủ CHDC Đức và Việt Nam từ 1987. Họ được ở lại sau ngày nước Đức tái thống nhất 1990.

• Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, những người Việt từ Việt Nam và các nước Đông Âu (Tiệp khắc, Balan, Nga) tràn sang Đức nhập trại. Họ ổn đinh dần sau những năm tháng sóng gió.

• Những người sang theo diện đoàn tụ gia đình, gồm vợ chồng con cái những người đã có quyền ở lại CHLB Đức.

.

Như vậy ở CHLB Đức hiện tại đã có ba thế hệ người Việt sống. Thế hệ trẻ dưới 25 tuổi được học hành trong các trường Đức nên nói tiếng Đức tốt hơn nhiều so với ngôn ngữ cội nguồn của họ. Họ cũng hiểu lịch sử và truyền thống Đức tốt hơn lịch sử và truyền thống Việt Nam. Không chỉ chính quyền ở Việt Nam mà cả thế hệ bố mẹ rất lo chúng mất dần bản sắc truyền thống. Họ ủng hộ việc học tiếng Việt, thường xuyên cho nghỉ phép ở Việt Nam.

Rào cản ngôn ngữ đã cản trở rất nhiều sự hội nhập của thế hệ bố mẹ vào xã hội Đức. Ngoài giờ làm việc, chủ yếu họ tiếp xúc và sinh hoạt với người Việt.Cách sống của họ còn mang đậm nét văn hoá Việt Nam nên đôi khi đụng độ với nếp nghĩ và lối sống phương tây của con cái. Xung đột văn hoá kiểu này thường là rào cản đối thoại giữa hai thế hệ và làm hố ngăn cách giữa họ sâu thêm. Con cái không nghe lời bố mẹ hoặc chỉ vâng dạ cho qua, nhưng không làm theo.

Đó là một việc nhạy cảm, không dễ gì tìm ra lời giải. Nhóm lớn tuổi từ 60 trở lên ngày càng đông. Khi về già, khi con cái đã trưởng thành họ không còn nhiều trách nhiệm với con cái nữa, nhưng suy nghĩ nhiều hơn về cội nguồn, khao khát nhiều hơn được về với cội nguồn Việt Nam. Thế nhưng quyết định về Việt Nam để sống đối với họ rất khó khăn. Ở đó khí hậu không dễ chịu như ở Đức, chăm sóc y tế chưa tốt, an ninh không bảo đảm. .

Đó là mâu thuẫn nội tâm của thế hệ này. Họ không ngần ngại cho biết những băn khoăn và mong muốn được chú ý và giúp đỡ.

.

Nguyễn Thế Tuyền

Nguyễn Thế Tuyền: CẤU TRÚC GIA ĐÌNH VIỆT NAM ĐÃ THAY ĐỔI

Bản tin khác